Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

Ngỡ ngàng trước tranh vẽ thật như ảnh chụp


Ngỡ ngàng trước tranh vẽ thật như ảnh chụp

Những bức tranh vẽ thật như ảnh chụp là những tuyệt phẩm nghệ thuật của họa sĩ người Tây Ban Nha Antonio Cazorla.

Họa sĩ Antonio Cazorla sinh năm 1971 tại Punta Umbria, Tây Ban Nha. Khi còn là một cậu bé, Cazorla đã bộc lộ khả năng thiên bẩm và lòng đam mê về hội họa. Vào năm 10 tuổi, Antonio Cazorla đã bắt đầu trở thành một tài năng trẻ về tranh sơn dầu. Đến năm 11 tuổi, những tác phẩm hội họa của Cazorla đã gây được sự chú ý lớn và đã được trưng bày ở nhiều cuộc triểm lãm ảnh.





Năm 1989, Cazorla bắt đầu theo học tại một trường năng khiếu nghệ thuật ở thành phố Seville. Trong thời gian học tập tại Seville , kỹ năng hội họa của Cazorla đã đạt đến trình độ điêu luyện. Sau khi tốt nghiệp, Cazorla đã có 3 năm sống ở Anh. Khi chuẩn bị quay trở lại Tây Ban Nha, anh đã được Viện Khoa học Nghệ thuật và Nhân văn ở Huelva trao tặng phần thưởng vì sự nghiệp cống hiến cho nghệ thuật.






Những tác phẩm hội họa của Cazorla đã phản ánh được sự tĩnh lặng và nhạy bén và trung thực của vật thể, thậm chí có thể cảm nhận dược mùi thơm của trái cây. Những bức họa mô tả khung cảnh về những đụn cát gợi nhớ lên những ký ức hoài cổ ở bờ biển Tây Ban Nha, nơi anh sinh ra và lớn lên.




Antonio Cazorla đã tham gia hơn 70 nhóm triển lãm lớn nhỏ, đồng thời tổ chức các buổi triển lãm đơn tại các quốc gia như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, và Anh. Tất cả các cuộc triển lãm đều thu hút sự chú ý và được đánh giá rất cao.

Khi thời trang bước ra từ... tranh Picasso


Khi thời trang bước ra từ... tranh Picasso

 Phong cách hội họa lập thể siêu thực của Picasso mới đây đã truyền cảm hứng cho một nhiếp ảnh gia thực hiện bộ ảnh thời trang đầy ấn tượng.

Picasso là người đi tiên phong trong cuộc cách mạng mỹ thuật tại Tây Ban Nha ở thế kỷ 20. Ông đã đem lại những định nghĩa mới, những tuyên ngôn mới về mỹ thuật và điêu khắc bằng chính tác phẩm của mình.

Mới đây, để thể hiện sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhân vật kiệt xuất của nền mỹ thuật nước nhà, một nghệ sĩ người Tây Ban Nha có tên Eugenio Recueno đã tôn vinh những tác phẩm của Picasso bằng một cách thể nghiệm mà Picasso sinh thời chưa bao giờ thử - nhiếp ảnh.

Recueno đã thực hiện những bức ảnh thời trang có nhiều nét tương đồng với những bức tranh lập thể của Picasso.


Tác phẩm tranh của Picasso được sáng tạo lại trong tác phẩm ảnh của Recueno.


Một tác phẩm ảnh lấy ý tưởng từ bức “Claude, con trai của Picasso” - 1948.


Những bức chân dung của Picasso thể hiện sự hứng thú đặc biệt của ông đối với hình học.

Những người mẫu xuất hiện trong các bức ảnh đều mang trên mình những bộ trang phục có nhiều nét tương đồng với trang phục xuất hiện trong các bức tranh của Picasso. Tư thế của người mẫu trong ảnh và trong tranh có thể không giống nhau nhưng vẻ tương đồng có thể cảm nhận rất rõ.

Nhiếp ảnh gia Eugenio Recueno muốn sử dụng chiếc máy ảnh của mình để nắm bắt được linh hồn của xu hướng hội họa lập thể cùng những gam màu ấn tượng được thể hiện trong tranh của Picasso.


Cách thể nghiệm của những bộ trang phục và cách biểu hiện của người mẫu trong các bức ảnh tuy không giống hệt với tranh gốc nhưng ngay lập tức nó khiến người ta nhớ tới Picasso.


Recueno đã cố gắng để tác phẩm ảnh của mình vừa gợi nhớ tới tác phẩm của Picasso vừa thể hiện dấu ấn riêng.


Bức ảnh lấy cảm hứng từ tác phẩm “Chân dung Nusch Eluard”.


Trong bức chân dung là một trong những người tình của Picasso - bà Dora Maar


Bức ảnh lấy cảm hứng từ tác phẩm “Chân dung Jacqueline Roque với hai bàn tay đan chéo”.

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Chuyện về người phụ nữ “vừa xấu nhất vừa đẹp nhất” trong hội họa


Chuyện về người phụ nữ “vừa xấu nhất vừa đẹp nhất” trong hội họa

Cùng là một người phụ nữ nhưng đã có 2 cách xuất hiện khác nhau trên 2 bức tranh nổi tiếng nhất của lịch sử hội họa Mỹ.
Là em gái, cũng đồng thời là người mẫu quen thuộc của họa sĩ nổi tiếng người Mỹ - Grant Wood, sinh thời, bà Nan Wood đã gặp phải nhiều phen “điêu đứng” vì những bức chân dung anh trai khắc họa mình.


Khi họa sĩ nổi tiếng người Mỹ Grant Wood (1891-1942) khắc họa em gái Nan Wood Graham (1899-1990) trong bức tranh “American Gothic”, cả hai đã không nhìn thấy trước những ảnh hưởng mà bức tranh có thể đưa đến đối với cuộc sống của người em gái.

Xuất hiện trong bức “American Gothic” là hai người quen thuộc đối với họa sĩ Grant Wood - em gái ông (khi đó 31 tuổi) và một bác sĩ nha khoa quen thuộc của gia đình - ông Byron McKeeby (1867-1950, khi đó 63 tuổi).

Bức tranh chân dung này không ngờ đã trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử mỹ thuật Mỹ. Mỗi khi chiêm ngưỡng, người xem luôn bị thu hút bởi cách biểu cảm khó nắm bắt và có phần bí ẩn của hai nhân vật chính, đặc biệt là người phụ nữ. Giới phê bình mỹ thuật đã hài hước nói rằng đây chính là “nàng Mona Lisa của nước Mỹ”.




                                                        Bức “American Gothic”.

Tuy vậy, chân dung của Nan Wood Graham cũng đồng thời gây nên những tranh cãi thường thấy xung quanh một tác phẩm mỹ thuật nổi tiếng. Khi bức “American Gothic” mới được đem trưng bày năm 1930, một số nhà phê bình đã chê bai nhan sắc và biểu cảm của nhân vật nữ.

Nhiều người khác lại nhầm tưởng rằng trong tranh là một cặp vợ chồng, trong khi thực tế ý tưởng ban đầu của Grant Wood là khắc họa hai cha con. Khoảng cách tuổi tác giữa bác sĩ McKeeby và cô Nan Wood cũng là 32 tuổi. Những chê bai về nhan sắc cùng việc người ta tưởng lầm đây là một cặp vợ chồng khiến Nan Wood rất buồn bã.

Để xin lỗi em gái, Grant đã vẽ bức “Portrait of Nan” (Chân dung của Nan) - một trong những tác phẩm hội họa đẹp đẽ nhất của ông. Nó giống như một lá thư xin lỗi đầy tình cảm mà người anh trai gửi tới cho em gái. Sinh thời, Grant Wood rất yêu quý em. Vì vậy, bức tranh chân dung “đền tội” này thể hiện cả sự gần gũi giữa hai anh em.

Bức chân dung khắc họa người phụ nữ 32 tuổi với trang phục hợp “mốt” và mái tóc được uốn rất thời thượng. Trong một tay, Nan cầm quả mận và trong tay còn lại là một chú gà con. Màu lông chú gà giống với màu tóc của Nan và màu quả mận lặp lại màu nền.





                                                              Bức “Portrait of Nan”.

Vậy là, vì có “American Gothic” nên mới ra đời “Portrait of Nan”. Cả hai bức tranh đều nổi tiếng trong lịch sử hội họa Mỹ. Ở bức tranh chân dung thứ hai, còn có một nhân vật đặc biệt khác, đó là chú gà con nằm trong tay Nan. Vị họa sĩ đã mua chú gà này và dành khá nhiều tình cảm cho nó.

Sống một mình và thường làm việc về đêm, kể từ khi có chú gà, Grant Wood cảm thấy vui vẻ hơn hẳn. Chú gà cũng nhanh chóng “điều chỉnh giờ sinh học” để thức cùng họa sĩ trong những giờ ông làm việc. Wood thường để chú gà trong một chiếc bình sành.

Một đêm, sau khi làm việc suốt nhiều giờ, Grant vô tình đặt một cuốn sách trên miệng chiếc bình sành và hoàn toàn không để ý gì tới hành động đó. Tới sáng hôm sau khi thức dậy, ông vội vàng nhấc quyển sách lên.

Vì thiếu không khí, chú gà con đang hấp hối. Grant nhanh chóng “cấp cứu” cho nó bằng cách vẩy nước và ngồi quạt cho chú gà suốt một tiếng đồng hồ. Chú gà tỉnh lại nhưng còn khá yếu ớt và cả ngày hôm đó Grant không thể tập trung làm việc nổi. Em gái ông đến để ngồi làm mẫu cũng đành bỏ về sớm.

Trong bức chân dung đẹp đẽ nhất của Nan, Grant đã đưa vào hình ảnh chú gà con mà ông yêu mến, nó thể hiện sự dịu dàng của Nan. Hoa trái trong hội họa vốn là biểu tượng cho sự nữ tính của phụ nữ, vì vậy, trong tay kia, ông để em gái cầm một trái mận.

Không như nhiều họa sĩ khác thường tìm những mẫu nữ khêu gợi và thậm chí có quan hệ tình ái với người mẫu để gia tăng cảm xúc sáng tạo, “nàng thơ” của Grant Wood lại chính là cô em gái.

Sau khi thực hiện bức “Chân dung của Nan”, Grant Wood nói với em rằng: “Đây là bức chân dung cuối cùng anh thực hiện, cũng là lần cuối cùng em ngồi làm mẫu vẽ cho anh”. Nan đã rất ngạc nhiên bởi suốt nhiều năm qua, bà đã ngồi làm mẫu vẽ cho anh trai. Grant chỉ giải thích ngắn gọn rằng: “Giờ đây, khuôn mặt em đã trở nên quá nổi tiếng rồi”.

Hội họa và sự phát triển trí tuệ của trẻ


Hội họa và sự phát triển trí tuệ của trẻ

Khoa học thực nghiệm chứng minh hội họa là một trong những cách giúp bé thể hiện tình cảm, suy nghĩ giống như giao tiếp bằng lời hay cử chỉ. Khi ngôn ngữ chưa hoàn thiện, đó chính là cảm xúc của bé một cách ngắn gọn, dễ hiểu.





Theo đó, những nét vẽ sẽ là phương tiện hữu ích giúp bé thể hiện bản thân. Hội họa kích thích não bộ trẻ phát triển, nâng cao khả năng diễn đạt, quan sát, tập trung và hình thành tư duy sáng tạo của các bé.

Các chuyên gia đến từ trung tâm Global Art Creative Việt Nam, thành viên tư vấn và trực tiếp tham gia giảng dạy môn hội họa trong chương trình "Bé IQ thật giỏi" cho biết, nếu ngôn ngữ giúp trẻ phát triển vỏ não trái thì việc hướng trẻ vào các trò chơi sáng tạo về màu sắc sẽ giúp bé phát triển vỏ não phải. Điều này thúc đẩy đồng bộ sự phát triển tư duy của bé.Học vẽ cùng chương trình "Bé IQ thật giỏi"

Do đó, những bài học về vẽ tưởng như đơn giản như tô màu, nhận biết màu sắc và hình dạng của vật thể trong cuộc sống… đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích phát triển tư duy của trẻ. Màu sắc tươi vui giúp trẻ dễ học và dễ ghi nhớ hơn. Những hoạt động quan sát và vẽ lại theo hướng dẫn của cô giáo, người lớn cũng giúp bé phối hợp hai mắt tốt hơn. Hoạt động điều khiển mắt và tay chân giúp bé khéo léo và làm chủ được các đường nét.

Các chuyên gia còn mang đến cho chương trình "Bé IQ thật giỏi" phương pháp giảng dạy mỹ thuật sáng tạo của Global Art Creative. Với chương trình này, các bé được học từ đơn giản như hình dáng, màu sắc cơ bản, quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày… đến những bài học phức tạp, đòi hỏi ở bé sự tập trung, khéo léo và sáng tạo. Ngoài ra, bằng phương pháp giúp bé hiểu các khái niệm dễ dàng, cụ thể và logic, suy nghĩ sáng tạo hơn, các chuyên gia sẽ lắng nghe và giúp các bé hoàn thành ý tưởng một cách tốt nhất.

Cũng theo các chuyên gia, trong quá trình dạy vẽ cho bé, mẹ nên chú ý hướng dẫn bé quan sát đúng thực tế và hướng cho bé sáng tạo dựa trên những kiến thức đúng, tránh những sáng tạo quá xa, sai lệch so với thực tế như: quả dưa hấu có hình vuông, con gà có bốn chân, con bò có cánh…

Cha mẹ nên dạy bé thông qua những trò chơi để bé yêu thích và không bị cảm giác "áp lực" khi học. Thỉnh thoảng, phụ huynh cũng nên cho bé xem thêm tranh ảnh từ sách báo hay những tác phẩm của bạn bè cùng trang lứa, giúp bé có thêm nguồn tham khảo. Bên bé, cổ vũ, "hợp tác" và nhận xét là những cách để trẻ hoàn thiện tác phẩm một cách tốt nhất.
Chế độ dinh dưỡng dành riêng cho "họa sĩ nhí"

Các nhà khoa học đã nghiên cứu rằng lutein đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển não bộ, giúp bảo vệ mắt. Bởi lutein tập trung rất nhiều trong võng mạc và nhiệm vụ của chúng là hỗ trợ sức khỏe của mắt theo hai cách chính. Lutein hấp thụ ánh sáng của các bước sóng màu xanh (ánh sáng này có thể gây tổn hại cho võng mạc) và lutein cũng có thể trung hòa các phân tử ôxy không ổn định - điều có thể gây thiệt hại cho võng mạc.

Lutein không tự nhiên tổng hợp được mà chỉ thông qua các nguồn sữa và thực phẩm. Do đó mẹ nên đảm bảo cho bé chế độ dinh dưỡng đặc biệt gồm các loại thực phẩm nhiều lutein có trong rau màu xanh đậm, lòng đỏ trứng… và các loại sữa công thức có mặt trên thị trường. Hiện nay, trong một số loại sữa, công thức còn được bổ sung DHA, AA, taurine và choline giúp tăng cường sự phát triển của mắt và não bộ.

Theo dõi các bé học hội họa trong chương trình "Khơi dậy tiềm năng trí tuệ của trẻ - Bé IQ thật giỏi" trên HTV7 lúc 19h30 thứ sáu ngày 21/9 để bạn có những kiến thức cập nhật và lý thú về cách giúp bé tiếp cận với hội họa. Bạn còn có thể gửi câu hỏi đến các chuyên gia, chia sẻ bí quyết nuôi dạy bé tại trang webwww.beiqthatgioi.com. Tại đó, bạn còn có cơ hội nhận nhiều phần thưởng hấp dẫn từ chương trình.

10 bức ảnh tuyệt đẹp chụp bằng smartphone


10 bức ảnh tuyệt đẹp chụp bằng smartphone

Không thể phủ nhận rằng, những chiếc smartphone được hỗ trợ thêm nhiều tính năng chụp ảnh hiện đại đã đem lại những bức ảnh tuyệt đẹp.

1. Tác giả Aaron – Sony Xperia V


2. Tác giả Guruprasad.K.M – Google Nexus 5


3. Tác giả Joe Dellava – LG G2 Verizon


4. Tác giả Josh Avondoglio – LG Optimus G Pro


5. Tác giả Koni – Samsung Galaxy S4 mini


6. Tác giả Krajan – Samsung Galaxy S III


7. Tác giả Mokhtar Mouhib – Sony Xperia Z1


8. Tác giả Niko Lindstrom – Nokia Lumia 1020


9. Tác giả radarek123 – LG G2


10. Tác giả Robby Saade – Samsung Galaxy Note 3


Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

Pháp sẽ bán "Mona Lisa" để trả nợ ?

Pháp sẽ bán "Mona Lisa" để trả nợ ?

Với việc Pháp đang gánh khoản nợ công tới 2.000 tỷ euro(2.600 tỷ USD), đã có người nêu ra giả thuyết nước này sẽ phải bán đi các kiệt tác như bức Mona Lisa của danh họa Phục hưng Leonardo Da Vinci để giảm bớt gánh nặng nợ nần.



Nụ cười bí ẩn của người phụ nữ trong tranh đã kéo hàng trăm ngàn du khách tới bảo tàng Louvre ở Paris mỗi năm. Giờ đây, nụ cười ấy có thể giúp Chính phủ Pháp bớt căng thẳng, nếu như bức tranh được mang ra bán để trả nợ quốc gia.

Vậy tranh Mona Lisa thực sự có giá bao nhiêu? Lâu nay kiệt tác này vẫn được xem là vô giá, tuy nhiên theo sách Kỷ lục Guinness Thế giới, tranh từng được bảo hiểm với mức giá 100 triệu USD hồi năm 1962.

Nếu tính cả tỷ lệ trượt giá, tranh hiện có giá trị gần 1 tỷ USD, tức chưa đầy 0,5% món nợ quốc gia Pháp. Ngoài ra, nước Pháp không chỉ có mỗi kiệt tác Mona Lisa. Paris hiện có 173 bảo tàng sở hữu nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Chỉ riêng việc bán các bức tranh (thuộc sở hữu công) của các họa sĩ thuộc trường phái Ấn tượng, đang trưng bày tại Bảo tàng D’Orsay, chính quyền sẽ giảm được ngay 4 tỷ euro tiền nợ.

Vấn đề hiện nay là ai sẽ trở thành kẻ "to gan" bán đi kho tác phẩm nghệ thuật của Paris và nước Pháp? Bruno Julliard, phụ trách văn hóa tại Tòa thị chính Paris, nói với vờ L’Express rằng thành phố “chưa căng thẳng kinh tế đến mức phải bán các bức tranh quý".
Và nếu chính quyền Pháp có muốn bán tranh, họ cũng không thể làm việc này dễ dàng. Trước hết, việc bán các tác phẩm thuộc sở hữu công như Mona Lisa là hành vi phạm luật. Điều 451-5 của luật Di sản Pháp quy định rõ: “Các bộ sưu tập nghệ thuật nằm trong bảo tàng thuộc Nhà nước quản lý phải được coi là tài sản công”.

Kể cả nếu luật này có được thay đổi thì việc bán tranh cũng sẽ vấp phải trở ngại lớn, khi hầu hết di sản văn hóa của Pháp đều do các cá nhân quyên góp. Bán tranh do họ tặng nhằm phục vụ việc trả nợ sẽ để lại những tiền lệ xấu, làm giảm uy tín của chính quyền và các viện bảo tàng ở Pháp.

Theo giới quan sát, để phục vụ mục đích trả nợ, hiện chính quyền Pháp chỉ có thể bán dễ dàng một số món tài sản như các chai rượu vang hảo hạng nằm trong hầm rượu ở Điện Elysee hay Trung tâm Hội nghị Quốc gia gần Khải Hoàn Môn.

Chia sẻ bởiCSKH WLike  Đỗ Mến0916183300 - 01656097687

HỘI HỌA CỔ ĐIỂN

HỘI HỌA CỔ ĐIỂN

Có một thời kỳ, nói đến hội họa cổ điển là người ta nghĩ ngay đến những bức họa, những lối vẽ đúng sự thật trăm phần trăm như một bức ảnh chụp, với đủ mọi chi tiết, vẽ một cái cây thì không được phép bỏ sót một cái lá, một cái cành. Nhưng sự thật có phải như vậy chăng? Quan niệm cái đẹp về hội họa của những môn phái trong thời kỳ cổ điển ra sao? Và họ đã từng có những chủ trương gì trong khi làm công việc sáng tác về hội họa?

Khi mà chúng ta nhìn một phong cảnh trong bức họa (dù là cổ điển hay hiện đại), không phải chúng ta tìm xem một cái cây, một trái núi, một dòng sông, nhưng là ta muốn tìm xem cái cây, trái núi và dòng sông ở chính trong bức họa đó. Chúng ta muốn biết họa sĩ đã nhìn sự vật trong trạng thái một tâm hồn nào. Chúng ta thưởng thức một tác phẩm hội họa, không phải để tìm một thực thể vật chất. Trong đó cái mà chúng ta tìm kiếm trong một bức họa là cái phần cảm xúc, chúng ta tìm một sự thật, nhưng là một sự thật của tâm hồn, của tình cảm. Trong một bức họa cổ điển đôi khi có vẻ rất rườm rà và đầy đặc những chi tiết vụn vặt, đường nét và màu sắc có vẻ rất gần với sự vật, nhưng đấy chỉ là một lối vẽ, một chủ trương về kỹ thuật. Các họa sĩ thời kỳ đó dùng nó để diễn tả tư tưởng và cảm xúc của họ. Nên dù là cổ điển, tất cả những họa phẩm đó đều có giá trị nghệ thuật, và cũng có địa vị ngang với những tác phẩm hội họa hiện đại. Trong thời kỳ cổ điển, hội họa cũng đã từng chịu rất nhiều luồng ảnh hưởng. Đầu tiên là thời kỳ ảnh hưởng của tôn giáo. Phần lớn các đề tài thời bấy giờ đều cố gắng nói lên lòng tôn sùng của loài người đối với các bậc thần thánh và thượng đế.

Các bức họa đều được vẽ theo lối kể truyện, nghĩa là vẽ theo các điển tích trong kinh sách, hay những truyện thần thoại được truyền tụng. Lối vẽ thì phần nhiều theo lối đắp nổi, chiều sâu chỉ cần đủ cho bề dầy của các nhân vật trong tranh.

Trong mỗi bức họa, người đứng xa hay kẻ đứng gần cũng đều to nhớn bằng nhau. To hay nhỏ không căn cứ vào luật xa gần như ngày nay mà căn cứ vào sự quan trọng của những vai trò. Những nhân vật chính bao giờ cũng to nhớn hơn những nhân vật phụ. Những kẻ tùy thuộc, tôi tớ, phải bé hơn chủ nhà. Loài vật bao giờ cũng được vẽ nhỏ hơn loài người. Đó là những trường hợp sự to hay nhỏ định đoạt theo ngôi thứ. Các họa sĩ thời ấy có lý hay không có lý trong chủ trương như vậy? Thật ra không có một luật lệ, nguyên tắc nào cho phép ta dám định đoạt, phản đoán. Bởi đã là nghệ sĩ là thoát khỏi mọi luật lệ. Nghệ sĩ tự mình đặt cho mình một quy luật riêng và phải tự tìm lấy một nguyên tắc riêng để mà noi theo. Chúng ta chỉ có thể tìm hiểu xem với những chủ trương ấy, họ có đạt tới ý mong muốn, có đạt tới mức gọi là nghệ thuật hay không. Cân đối hay không cân đối, rườm rà hay đơn giản, màu sắc chói sáng hay tăm tối, đưòng nét mềm lượn hay mãnh liệt chỉ là những yếu tố của một tác phẩm, chính nó không phải là tác phẩm. Về phương diện màu sắc, thì trong thời kỳ đó các họa sĩ hay dùng những màu sắc nguyên chất rất nhiều tính chất trang trí. Những màu như kim nhũ, xanh đậm, đỏ tươi, vàng sáng, đen, trắng, là những màu sắc ta thường thấy trên các tác phẩm của họ. Ánh sáng hay bóng tối đều được tượng trưng bởi các màu nguyên chất. Không dùng đến độ đậm nhạt của mỗi màu.

Thường thì một bức họa khác một bức tượng là bức họa chỉ có hai chiều, chiều dài và chiều rộng vì là một bề mặt bằng. Muốn cho sự vật ở bức họa nổi lên từng lớp, phải tạo ra một chiều thứ ba là chiều sâu, đó cũng là để diễn tả bề dầy của mỗi vật. Muốn diễn tả chiều sâu hay bề dầy của mỗi vật, phải nhờ đến ánh sáng và bóng tối. Ví dụ một cái cây màu nâu, muốn diễn tả cả ba chiều thì những phía có ánh sáng chiếu phải dùng màu nâu thật nhạt, chỗ quay vào bóng tối dùng màu nâu sẫm, từ chỗ thật tối đến chỗ thật sáng dùng những màu nâu vừa vừa. Như vậy, khi nhìn cái cây, người xem có cảm tưởng là thấy cả ba chiều của một cái cây. Nhưng trong thời kỳ đó, các họa sĩ chỉ dùng lối đó để diễn tả những cái gì tế nhị, như những khuôn mặt, bàn tay, bàn chân. Còn các chỗ khác, họ thường dùng tính chất của mỗi màu để tượng trưng cho ánh sáng và bóng tối. Thường màu sắc được phân tích ra làm ba biểu thức: tính chất, sắc tươi, và độ đậm nhạt. Xanh, đỏ, vàng, tím, v. v... là tính chất của mẫu. Nhưng mỗi một màu lại có một sắc tươi sáng khác nhau, khi so sánh với nhau. Và mỗi màu lại có độ đậm nhạt đi từ độ thẫm nhất đến độ nhạt nhất, khi tự nó so sánh với chính nó.

Tuyệt nhiên các họa sĩ thời đó không dùng đến độ đậm nhạt để diễn tả chung cả toàn thể một bức họa.

Từ lối vẽ, đường nét, đến màu sắc đều là tượng trưng. Nhưng nhìn chung toàn thể bức họa với đầy đủ chi tiết của nó lại cho ta cái cảm giác là nó rất gần với lối tả chân.

Đại diện xuất sắc nhất trong thời kỳ đó có hoạ sĩ Giotto. Người được coi là ông tổ môn phái hiện thực của Âu Châu.

Nếu có dịp được kiểm điểm lại những tác phẩm hội họa cổ điển hồi ấy, chúng ta cũng sẽ nhận định được một cách rất rõ ràng rằng: cho dù ở thời kỳ cổ điển, các họa sĩ chân chính vẫn không bao giờ quan niệm làm công việc hội họa chỉ có mục đích là chép đúng lại hình ảnh của thiên nhiên, của sự vật một cách rất máy móc và khách quan. Những sự vật thể hiện trên các sáng tác của họ cũng đã được tâm hồn họ nhào nặn, trí tưởng tượng của họ vuốt ve, óc quan sát của họ đào sâu, khám kỹ để tạo nên những tác phẩm mà đến ngày nay còn làm cho chúng ta cảm phục. Sáng tác được họ coi là cả một nghi lễ. Thời bấy giờ tất cả cảm xúc, nội dung sáng tác đều hướng về những cái cao đẹp là thượng đế. Tất cả đều chỉ là để biểu dương lòng tôn sùng đối với một đấng tối cao. Ở tất cả các họa phẩm, người ta đều nhận thấy ý muốn của nghệ sĩ vươn lên đến những vòm trời cao rộng, hay tới địa hạt thiêng liêng của thần thánh, say mê, một sự say mê đến độ cuồng tín của tinh thần đạo giáo, ở đấy ta không thể tìm thấy dễ dàng những cảm xúc có tính chất nhân loại. Ta cũng sẽ không thấy những gì là vui khổ, đau buồn của con người. Mà chỉ có một sức tuy mãnh liệt nhưng lại ôn hòa, dịu hiền, nhẹ nhàng và bàng bạc phảng phất như trong một giấc mơ đẹp. Thiếu hẳn cái mãnh liệt, phá phách, dằn vặt, giận hờn, những độ vui sướng đến điên cuồng tuy không cao xa gì nhưng lại rất là nhân loại.

Chúng ta phải chờ đợi tới thời kỳ tiếp theo sau đó, khi mà loài người trở về với những cảm xúc có tính cách nhân loại hơn. Vì khi đó nghệ sĩ đã tìm thấy cái đẹp ngay ở trong nhân loại, ngay ở trong cuộc sống của con người.

Cũng thật là hợp lý, khi con người đã quá ngợp với những khoảng trời cao xa vô tận; để rồi cúi xuống thấp hơn, lắng nghe tiếng nói của tâm tình mình, để khám phá ngay chính cái bản thể của mình, và của đồng loại.

Bất cứ trong thời đại nào, chúng ta khó mà tìm được một cái đẹp gọi là lý tưởng, gọi là khuôn mẫu. Trong đường nét không phải chỉ có những đường thẳng là đẹp, trong màu sắc không phải chỉ dùng những màu tươi sáng là diễn tả được một cảnh trời trong sáng. Cho nên nghệ sĩ đã đi tìm cái đẹp ở trong cái đẹp, mà cũng đi tìm cái đẹp ở trong cái xấu, như kẻ thích vui tai đi tìm những tiếng kêu ồm ồm của một cây đại hồ cầm; như một kẻ đi tìm cái ngon ở vị chua của một quả chanh.

Cho nên thời kỳ cổ điển có những họa sĩ, trong lúc đi tìm cái đẹp ở một thế giới bao la, huyền ảo thì cũng đã có những họa sĩ đi tìm kiếm những cái đẹp trong sự sống tầm thường hàng ngày, ở cảnh sinh hoạt xã hội, ở ngay trong tâm tình của con người, cái con người nói chung, chứ không ríêng một từng lớp nào. Nên bút pháp của các họa sĩ ở thời kỳ cổ điển cũng thay đổi tùy từng trường hợp.

Lối vẽ trừu tượng đã có từ thế kỷ thứ XIII, không hẳn như lối vẽ hiện đại. Đó là thứ trừu tượng theo sát thiên nhiên. Nó tạo nên một thiên nhiên mới lạ. Cái thiên nhiên trong thế giới hội họa, tuy nhiên nó vẫn đi song hành với cái thiên nhiên trong cuộc đời. Tưởng chừng nói như vậy là mâu thuẫn, nhưng có thể nói được rằng các họa sĩ thời đó đã cụ thể hóa lối vẽ trừu tượng của họ. Nhiều khi nhìn những hình thể lệch lạc, méo mó của họ mà ta tưởng chừng như vẫn đúng với thiên nhiên, nhìn những màu sắc quá tươi mà ta vẫn tưởng đó là màu sắc tự nhiên, thật sự của cảnh vật. Cho nên đôi khi thưởng thức những bức họa cổ điển, nếu có kẻ đã mê một vẻ đẹp của người trong tranh như mê một người đàn bà đẹp trong cuộc đời, thì kẻ đó sẽ không bao giờ còn nhận thức được cái phần giá trị của nghệ thuật trong bức họa. Cũng như những kẻ say mê một nhân vật anh hùng trong một cuốn tiểu thuyết, thì khó mà thưởng thức được giá trị nghệ thuật văn chương của tác giả.

Khi mà nghệ thuật hội họa ở thời cổ điển đã tìm được nguồn cảm hứng ở chính nhân loại, thì có họa sĩ Masaccio là tiêu biểu cho ý tưởng đó. Ông là người Ý Đại Lợi mất vào quãng 27 tuổi. Mặc dầu tuổi trẻ nhưng ông cũng đã thành công cho việc đặt một nền tảng mới cho nền hội họa của nước Ý. Ông đã chinh phục được họa sĩ thời ấy, và đặt vào lòng họ một niềm tin tưởng mới ở con người. Và sự thành công nhất của ông là đã kéo thượng đế gần lại với loài người, là nhân loại hóa thượng đế. Trước ông, người ta tượng trưng thượng đế một cách xa hẳn với thế giới của loài người.

Trong các tác phẩm của Masaccio, phần lớn đề tài vẫn có tính chất tôn giáo. Nhưng đó chỉ là một cớ ông muợn để diễn tả tâm tình của ông và của nhân loại.

Đấng cứu thế nằm trên một thập tự gỗ trong họa phẩm của các họa sĩ thời đó không phải là một ông trời đầy oai quyền, cũng không còn là một thượng đế với muôn vạn quyền năng, với muôn ngàn sự cao sang toàn vẹn. Nhưng đấy chỉ còn là một hình ảnh của con người với tất cả đắng cay của cuộc đời hiện trên nét mặt khắc khổ, với những đức tính hy sinh, nhẫn nại. Đó cũng là một đấng thượng đế, nhưng là một đấng thượng đế đầy lòng nhân ái, vị tha. Con người yêu mến, mà không khiếp sợ. Con người thấy gần mình hơn, hay đúng hơn chính là mình vậy. Cái đẹp ở những tác phẩm đó thuộc về phần tinh thần, khác hẳn các phần đẹp vật chất. Nó cũng không hẳn là có tính chất xã hội. Chính nó vẫn đượm nhuần tinh thần tôn giáo. Nhưng là một thứ tinh thần tôn giáo đi gần với nhân loại đau khổ.

Ngay về kỹ thuật đường nét và màu sắc, một số đông họa sĩ thời bấy giờ cũng ảnh hưởng ở Masaccio. Họ có một lối diễn tả mới về con người. Căn cứ vào những tác phẩm của họ, ta thấy những con người của họ vẽ là những khối đang cử động thực sự, chứ không phải chỉ là những động tác cử động bị ngừng hãm lại ở một dáng điệu nào. Họ không hề phân tách các động tác mà chỉ dùng những động tác ấy như một sức mạnh để thúc đẩy sự sống của những nhân vật trong tranh. Bởi vậy những đường nét ở biên giới các bắp thịt không nổi rõ, chỉ có những đường nét chính của từng khối cử động.

Trong địa hạt kỹ thuật, hội họa có hai lối dùng để diễn tả nhịp điệu của sự cử động. Một họa sĩ có thể tìm thấy sự chuyển động ở trong các hình thể; trong trường họp này: cử động là yếu tố của hành động, và đường nét là cần cho sự diễn tả. Một họa sĩ khác, nhận xét thấy ở ngoài hình ảnh của mình tạo ra có một sự chuyển động bao bọc nó qua sự rung động của những luồng ánh sáng và bóng tối. Trong trường hợp này thì sự cử động không diễn tả bằng một hành động, nhưng bằng sự chuyển động của vũ trụ, không gian bao quanh mỗi hình thể, hay ngược lại mỗi hình thể sự vật được nhận chìm vào trong sự chuyển động của không gian. Cách diễn tả thứ nhất là một lối vẽ cổ truyền rất thịnh hành ở miền Florence bên Ý hồi bấy giờ. Cách thứ hai hơn hẳn lối trước và tạo nên một tác dụng rất hiệu quả cho sơn dầu hồi đó và ngay cả cho những thế kỷ sau này.

Trong suốt thời kỳ cổ điển, sự phân chia thành các môn phái có thể nói được là không có gì rõ rệt. Vì đề tài và nội dung có thay đổi theo những trào lưu tư tưởng mỗi thời kỳ. Nhưng tựu trung, về kỹ thuật hội họa chưa hẳn có một quan niệm mới lạ khả dĩ gọi được là cách mệnh hẳn lối vẽ.

Chia sẻ bởiCSKH WLike  Đỗ Mến0916183300 - 01656097687

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

10 NGÔI TRƯỜNG THIẾT KẾ NỔI TIẾNG THẾ GIỚI


10 NGÔI TRƯỜNG THIẾT KẾ NỔI TIẾNG THẾ GIỚI




1. Central St. Martins College of Art and Design (London, Anh). Tại đây, bạn có thể theo học các ngành học liên quan đến Mỹ thuật, Thiết kế thời trang và vải, Đồ họa, Truyền thông, Biểu diễn. Sinh viên tiêu biểu của ngôi trường được thành lập từ năm 1989 này là Stella MacCartney, John Galliano, Alexander McQueen, Phoebe Philo, Paul Smith. Học phí trung bình 20.000 – 25.000 $/năm. Bạn có thể tìm thấy thông tin học bổng, hỗ trợ tài chính của trường tại đây. 

2. Parsons The New School for Design (New York, Hoa Kỳ). Học phí 40.000$/năm. Parsons là trường cũ của những nhà thiết kế lẫy lừng Donna Karan, Marc Jacobs, Tom Fore và Alexander Wand. Ngôi trường thiết kế thời trang này được xem là nơi có học phí đắt đỏ nhất thế giới với những “thầy cô” tên tuổi như Donna Karan. Bạn có thể tham khảo mức học phí cho niên học 2011-2012 tại đây.

3. Bunka Fashion College (Tokyo, Nhật Bản). Học phí: từ $13.000 đến $20.000. Cựu sinh viên nổi tiếng có Kenzo, Chisato Tsumori và Yohji Yamamoto. Ngôi trường sở hữu một bảo tàng phục trang với hơn 20.000 mẫu hàng, thư viện với những đầu sách thời trang quý nhất Nhật Bản cùng một Trung tâm tư liệu thời trang chuyên thu thập, triển lãm các thiết bị, tài liệu về vải vóc, phim ảnh và phục trang…

4. Royal Academy of Fine Arts (Antwerpen, Bỉ) với duy nhất 140 sinh viên thời trang với học phí vào khoảng $8000/năm cho sinh viên quốc tế. Đây là một trong những trường đào tạo ngành thời trang lâu đời nhất châu Âu, được thành lập vào năm 1663.

5. Fashion Institute of Technology (Đại lộ số 7, Đại lộ danh vọng của ngành thời trang, New York, Hoa Kỳ). Với khoảng 10.000 sinh viên, 5 khoa và hơn 30 chuyên ngành. Những tên tuổi làm rạng danh nhà trường gồm: Reem Acra, Francusco Costa, Nina Garcia (Elle), Carolina Herrera, Calvin Klein, Michael Kors, Ralph Rucci. Học phí $13.000/năm.

6. Ecole De La Chambre Syndicale (Paris, Pháp) có sỉ số 240 sinh viên và mức học phí $14.000/năm. Nhà thiết kế thành công có Andre Courreges, Issey Miyake, Valentino, Yves Saint Laurent, Nicole Miller.

7. Instituto Marangoni (Milan, Ý). Viện bao gồm 2000 sinh viên với mức học phí là $26.000/năm. Sinh viên tiêu biểu: Domenico Dolce, Franco Moschino. Theo trang web của trường, 90% sinh viên tốt nghiệp từ Marangoni đều nắm giữa những vị trí được trả lương hậu hĩnh của nền công nghiệp thời trang.

8. ESMOD (Paris, Pháp), ngôi trường về thời trang lâu đời nhất nước Pháp có mức học phí $16.000/năm và sinh viên nổi bật: Christophe Decarnin.

9. University of Westminster (London, Anh). Mức học phí 17000 $/ năm với những cái tên nổi bật của làng thời trang: Vivienne Westwood, Christopher Bailey, Michael Herz, Stuart Vevers (Mulberry, Loewe), Katie Hillier, Sophie Dean

10. London College of Fashion (London, Anh). Đây là ngôi trường được biết đến nhờ những chương trình đào tạo stylist, nhà báo và nhà thiết kế chuyên về lĩnh vực giày. Sinh viên “con cưng” có thể kể tới Jimmy Choo. Học phí là $20.000/năm.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike  Đỗ Mến
0916183300 - 01656097687